Việt Nam đối mặt với biến đổi khí hậu như thế nào?

0
1455

Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa thay đổi sẽ làm ảnh hưởng lớn tới nông nghiệp và tài nguyên nước. Diện tích rộng lớn của đông bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền trung bị ngập lụt.

I. Tổng quan:
Theo Ngân hàng thế giới, năm 2007, trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người thì năm 2015 ,ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần. Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng lên theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bang-la-đét, Việt Nam, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ,Thái Lan, và Phi-líp-pin.

Thoả thuận lịch sử COP 21 ngày 14 – 12 – 2015 tại Pari Pháp, các nhà khoa học cho rằng tăng: “ 2oC là ngưỡng nguy hiểm của việc hành tinh xanh nóng dần lên. Vượt qua ngưỡng cử này các hậu quả về sinh thái và môi trường là không thể vãn hồi. Cụ thể ở mức tăng 3oC các đại dương sẽ dãn nở, băng tan chảy làm nước biển dâng cao 60 cm, nhấn chìm nhiều khu vực ven biển. Ngoài ra nhiệt độ trung bình của quả đất tăng ở mức này sẽ làm cho thời tiết sẽ trở nên khắc nghiệt, mùa đông lạnh giá hơn, mùa hè nóng bức hơn, thiên tai lũ lụt, Elinna, Anino, cũng sẽ diễn ra thường xuyên nhiệt độ tăng giới hạn nên chỉ 1,5 oC (TN 14/02/2015). Tại hội nghị Liên hợp quốc, về BĐKH (COP 23), diễn ra ở Boon – Đức ngày 16 – 17/11/2017 cho biết (trên phạm vi thế giới trong 20 năm từ 1996 – 2016 thiên tai BĐKH làm chết 520.000 người, gây thiệt hại kinh tế 3.160 tỷ USD (báo TN ngày 19/11/2017).

Ảnh minh họa

Việt Nam được dự đoán là một trong 5 nước đang phát triển bị tác động tồi tệ nhất trên thế giới nếu khí hậu tăng lên 1oC và nước biển dâng cao 1m. những tác động xấu gây nên cho con người, đất nông nghiệp,và GDP như :
– Các thời tiết trở nên bất thường và khó dự báo hơn.
– Mức nước biển dâng cao 1m có thể làm mất 12,2% diện tích đất, là nơi cư trú của 23% dân số (17 triệu người).
– Ngày càng có nhiều cơn bão và mức độ tàn phá mạnh hơn.
– Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa thay đổi sẽ làm ảnh hưởng lớn tới nông nghiệp và tài nguyên nước. Diện tích rộng lớn của đông bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền trung bị ngập lụt do nước biển dâng. Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến ngập nước ven biển Việt Nam, nhất là các khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nam Định. – Như vậy, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Thật vậy BĐKH đã biểu hiện rõ ở Việt Nam trong những năm gần đây. Hạn hán liên tiếp hoành hành tại cả 3 miền. Lũ lụt, bão xẩy ra thường xuyên hơn, gây thiệt hại lớn về người và của. Cũng trong vòng 50 năm qua ảnh hưởng của ENSO đến điệu kiện thời tiết nước ta khá nặng nề[1].

II. Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp:

Ảnh hưởng đến hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới: Trong 45 năm (1956 – 2000) có 311 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam; trung bình mỗi năm có 6,9 cơn, mỗi tháng có 0,85 cơn. Mỗi năm chính phủ phải chi hàng ngàn tỷ đồng để khắc phục hậu quả thiên tai. Ở Việt Nam, trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành ở miền Trung và Tây Nguyên làm thiệt hại gần 3000 tỷ đồng. Chỉ riêng năm 2007, thiên tai đã làm thiệt hại 11.600 tỷ đồng, hơn 400 người chết, mất tích; làm ngập và hư hại 113.800 ha lúa, phá huỷ 1.300 công trình đập, cống thuỷ lợi. Để khắc phục, Chính phủ đã phải huy động Quỹ dự phòng cứu trợ cho các địa phương bị thiệt hại 2.500 tỷ đồng và 11.000 tấn gạo.

Ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ con người: Theo thống kê, từ năm 1977 đến 2000 tổng số người bị chết và mất tích do thiên tai là 14.962 người, trong đó xảy ra vào những năm ENSO chiếm 64% (El nino 43%, La Nina 21%). Tỷ lệ số người mắc bệnh sốt xuất huyết trên 100.000 người trong thời kỳ 1976 – 1998 có quan hệ với hiện tượng El Nino với hệ số tương quan từ 0,4 – 0,6. Riêng đợt El Ninô 1997 – 1998, cả nước có 51 tỉnh – thành phố có dịch sốt xuất huyết với tỉ lệ bình quân 306/100.000 người.[2]

BĐKH cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực với trữ lượng các bãi cá và nghề đánh cá trên các vùng biển nước ta. Cường độ mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian ngắn dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò….) bị chết hàng loạt do không thích nghi với nồng độ muối thay đổi. Các loại cá nhiệt đới kém giá trị kinh tế tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn[2].

Do mưa lớn, hầu hết các hồ chứa Bắc Bộ, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và các hồ chứa nhỏ ở Nam Trung Bộ đã đầy nước. Cả nước hiện có 1.200 hồ chứa bị xuống cấp nghiêm trọng, trong đó có 350 hồ xung yếu, là những quả “bom nước” có thể vỡ bất cứ lúc nào.

Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai cho biết, đợt mưa, lũ sau bão 12 khiến khoảng 19 tỷ m3 đổ xuống khu vực Thừa Thiên – Huế đến Khánh Hòa, Tây Nguyên. Đã xuất hiện lũ rất lớn ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Lũ ở trên sông Hương xấp xỉ trận lũ lịch sử năm 1999. Tính từ đầu năm 2017 đến nay, cả nước xảy ra 18 sự cố về hồ. Ngoài các sự cố nói trên, còn có các sự cố ở Thái Nguyên (1 hồ), Hòa Bình (4 hồ), Thanh Hóa (3 hồ), Nghệ An (1 hồ), Hà Tĩnh (1 hồ), Phú Yên (2 hồ), Bà Rịa – Vũng Tàu (1 hồ). Hiện các hồ trên đã được xử lý khẩn cấp để đảm bảo an toàn trước mắt.

Ảnh minh họa

Ngày 8/11/2017, Văn phòng Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Cục Cứu hộ cứu nạn (Bộ Quốc phòng) cho biết, thống kê đến 17 giờ cùng ngày, mưa bão số 12 làm chết 106 người, 25 người mất tích bị thương 197 người.

Số người chết ở từng tỉnh: Khánh Hòa 39 người, Bình Định 17 người, Quảng Ngãi 8 người, Quảng Nam 24 người, Thừa Thiên – Huế 10 người, Lâm Đồng 3 người, Đắc Lắc 1 người, Quảng Trị 1 người, Đà Nẵng 1 người. Vẫn còn 25 người mất tích (Quảng Nam 11 người, Bình Định 8 người, Khánh Hòa 5 người, Phú Yên 1 người).

Mưa lũ lớn cũng làm nhiều địa phương bị ngập nặng: Thừa Thiên – Huế hơn 70.000 nhà ngập 0,2 – 0,8m; Đà Nẵng trên 11.500 nhà (chủ yếu khu vực Hòa Vang, Ngũ Hành Sơn); Quảng Nam trên 4.800 nhà; Quãng Ngãi có 53 xã (phường) thuộc 8 huyện, thành phố đã bị ngập; Phú Yên gần 7.800 nhà (chủ yếu là huyện Tuy An và Đồng Xuân); Quảng Trị trên 760 nhà ngập 0,3 -1m, có nơi ngập tới 2m (chủ yếu ở khu vực Hải Lăng, Triệu Phong, Quảng Trị).

Cơn bão số 12 (Damrey) chỉ trong phút chốc ập vào bờ biển Quy Nhơn (Bình Định) sáng 4/11 đã đánh đắm một lúc 8 con tàu hàng đang neo đậu, nhấn chìm gần 100 thuyền viên. Giữa bão bùng, 71 thuyền viên được cứu sống, 13 thuyền viên mất tích, sau dó tìm được 11 thi thể, 1 tàu hàng khác bị bão đánh dạt vào bờ mắc cạn, may mắn 15 thuyền viên sống sót, trong số tàu bị đắm có một chiếc chứa 130 tấn dầu, nếu bị tràn dầu thì đây là một thảm họa khó lường.

Chỉ sau một đêm, thủ phủ nuôi tôm hùm ở thôn Vịnh Hòa, xã Xuân Thịnh, thị xã Sông Cầu (Phú Yên) đang nhộn nhịp, trù phú trở thành tan hoang, người nuôi tôm trắng tay, ngập trong nợ nần. Vào đầu thôn Vịnh Hòa, lồng bè nuôi tôm nằm la liệt chất chồng lên nhau, dày đặc bãi biển. Trước khi được vớt vào bờ, những chiếc lồng này nuôi nhiều tôm hùm. Thường thì người dân ở đây thả nuôi từ 50 – 60 con/lồng. Bây giờ lồng tôm trống không.

Trong năm 2008 Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đưa ra khái niệm nghèo do môi trường, mà thực chất là đặt nghèo đói vào trong những khung cảnh nhất định, gắn liền với vùng sinh cảnh như là nguồn cung cấp các nguồn lực cơ bản cho sinh kế của người nghèo. ADB gọi cái nghèo trong những sinh cảnh (vùng) mà nguyên nhân chính là môi trường suy thoái là nghèo do môi trường và người nghèo sống trong những sinh cảnh (vùng) đó được gọi là người nghèo do môi trường. Trên cơ sở ý tưởng này có thể quan niệm nghèo do BĐKH là nghèo có nguyên nhân từ những tác động của BĐKH và người nghèo sống trong những khu vực (sinh cảnh) bị tác động của BĐKH được gọi là người nghèo do BĐKH.

III. Giải pháp ứng phó:

Ngày 17/11/2017 ngày cuối cùng của COP 23, đã có nhiều cam kết tự nguyện được đưa ra. Đáng chú ý nhất là 20 nước quyết định không sử dụng than kể từ năm 2030 và sự ra đời của một liên minh chống sử dụng than đá. Theo đó, Đan Mạch, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Ý, New Zeland, Costa Rica, Fiji và khoảng 10 quốc gia khác đã cam kết chấm dứt dùng than để sản xuất điện vào năm 2030. Riêng Pháp, trong 3 năm nữa sẽ đóng cửa hoàn toàn các nhà máy nhiệt điện dùng than. Đặc biệt trong số các thành viên tham gia liên minh này còn có nhiều bang của Mỹ, dù trước đó Washington đã tuyên bố ý định rút khỏi Thoả thuận Paris, thoả thuận đặt kỳ vọng cắt giảm lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (CO2) để kiềm chế mức tăng nhiệt độ trên toàn cầu. Tại COP 23, Cơ quan Năng lượng quốc tế cho rằng các nhà máy điện than sản sinh ra gần 40% điện năng toàn cầu làm cho ô nhiễm CO2 từ than trở thành một trong những yếu tố hàng đầu gây ô nhiễm không khí và gia tăng nhiệt độ trái đất. Hiện tại, Trung Quốc là nước tiêu thụ tới một nửa lượng than của toàn thế giới, kế dến là Mỹ, Châu Âu, Ấn Độ [3].

Trưởng đoàn Việt Nam cũng chia sẻ với các bên về một sự kiện như là mốc quan trọng xây dựng khả năng thích ứng và ứng phó với BĐKH ở Việt Nam. Đó là vào tháng 9 vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã tổ chức hội nghị về chuyển dổi mô hình phát triển bền vững, thích ứng với BĐKH vùng đồng bằng sông Cửu Long, một trong những vùng trồng lúa gạo lớn nhất Đông Nam Á và chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi BĐKH trên thế giới. Tại hội nghị, Việt Nam cam kết đến năm 2030 sẽ cắt giảm 8% lượng phát thải gây hiệu ứng nhà kính so với mức phát thải thông thường, sử dụng hiệu quả năng lượng sẵn có, phát triển nâng tỷ trọng năng lượng sạch nhằm giảm phát thải, tăng diện tích trồng rừng để tăng khả năng hấp thụ CO2…[3].

Nhiều giải pháp ứng phó với tác động tiêu cực của BĐKH thì vấn đề đói nghèo và người nghèo được lưu ý cần được quan tâm trong hành động của tất cả các quốc gia. Báo cáo phát triển con người mới nhất (do UBDP công bố năm 2007) là báo cáo tập trung vào chủ đề “cuộc chiến chống BĐKH” đã kiến nghị các quốc gia “Cần ưu tiên lồng ghép nhiều hơn công tác thích ứng với BĐKH vào các chiến lược xoá đói giảm nghèo”[4].

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH của Bộ Tài nguyên –Môi trường nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ số 60/2007/NQ-CP đã có một yêu cầu “phân tích và đánh giá khía cạnh kinh tế của các hoạt động thích ứng với BĐKH”. Trên cơ sở này cần thiết có một khung khổ tổng thể (Đề án tổng thể) về phân tích và đánh giá kinh tế các tác động của BĐKH ở Việt Nam. Trong khung khổ tổng thể như vậy, nhìn từ góc độ của vấn đề nghèo đói thì việc nghiên cứu phân tích kinh tế tác động của BĐKH cần tập trung trước hết vào đối tượng người nghèo ở các vùng, khu vực, lĩnh vực chịu tác động của BĐKH ở nước ta.

+ Nghiên cứu cụ thể hoá nội dung phạm trù “nghèo do môi trường”, trong đó có do BĐKH để trên cơ sở đó kiến nghị với các cơ quan hoạch định chiến lược, chính sách chính thức đưa diện đối tượng này như là một đối tượng cần quan tâm trong hoạch định chiến lược, chính sách.
+ Điều tra, khảo sát xây dựng phần cơ sở dữ liệu về nghèo đói gắn với những BĐKH mà hiện nay do những bất cập trong hệ thống và phân công quản lý nhà nước hiện còn đang thiếu hụt chưa có cơ quan, tổ chức nào được phân công có trách nhiệm quan tâm bao quát cụ thể.
+ Nghiên cứu các tác động về kinh tế với người nghèo ở các khu vực bị tác động của BĐKH bên cạnh các nghiên cứu tác động về tự nhiên, môi trường, xã hội. Xét theo các nội dung đề cập và thảo luận tại các hội nghị, hội thảo về xoá đói giảm nghèo.
+ Thích ứng là sự điều chỉnh trong hệ sinh thái, xã hội hoặc kinh tế nhằm ứng phó với những tác động thực tế hoặc dự báo của sự BĐKH. Sự thích ứng là những thay đổi trong các hoạt động của con người nhằm giảm thiểu tác hại của những BĐKH. Thích ứng là một chiến lược quan trọng được thực hiện đồng thời với các biện pháp cắt giảm khí nhà kính, nhằm đối phó với sự BĐKH (IPCC, 2007b). Ví dụ, biến vùng ngập mặn thành thế mạnh nuôi tôm xuất khẩu.
– Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy rằng có nhiều biện pháp để giúp người nghèo đối phó với vấn đề BĐKH. Nhưng lựa chọn trước tiên đó chính là cần phải lồng ghép vấn đề BĐKH. Đặc biệt là các nỗ lực thích ứng vào quá trình lập kế hoạch như quá trình xây dựng chiến lược xoá đói giảm nghèo. Chiến lược phát triển bền vừng. Sự lồng ghép này phải hướng tới người nghèo, giúp họ giảm thiếu được những tác hại do sự BĐKH, duy trì được sinh kế, gia tăng được thu nhập để thoát nghèo./.

PGS.TS Nguyễn Đức Khiển
Nguyên Giám đốc Sở KH-CN-MT Hà Nội

Ảnh minh họa: Nguồn Internet

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. PGS.TS Nguyễn Doanh Sơn – “Nghèo đói do BĐKH, nhìn từ góc độ kinh tế trong kế hoạch phát triển” – Kỷ yếu hội thảo môi trường 26/9/2009.
2. PGS.TS Nguyễn Đức Khiển – “An ninh môi trường” – NXB Thông tin – Truyền thông 2013.
3. “Thiên tài không chừa Quốc gia nào” – Báo Thanh niên 19/11/2017.
4. PGS.TS Nguyễn Đức Khiển – “Sử dụng hợp lý tài nguyên để phát triển bền vững” – NXB Khoa học – Kỹ thuật 2014.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here