Một số vấn đề pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường

0
329

(Phapluatmoitruong.vn) – Xin cùng nhìn lại các vấn đề pháp lý về bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp xả thải gây thiệt hại môi trường qua vụ việc từng rất đình đám: Vedan Đồng Nai.

Lưu ý, vụ Vedan Đồng Nai bị phát hiện vào tháng 9-2008 và kéo dằng dai cho đến năm 2013 vẫn chưa xong. Đến nay, khu vực sông Thị Vải nơi mà Vedan đã “đầu độc”, người ta đã chuyển đổi nơi này thành khu công nghiệp cảng biển.

Người dân cũng được quyền đòi đền bù riêng

Các phân tích tiếp theo đây dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành, và từ vụ việc Vedan Đồng Nai xảy ra vào năm 2008.

Chủ thể có quyền đòi bồi thường, chủ thể phải bồi thường và vấn đề đại diện

Về bản chất, tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là tranh chấp ngoài hợp đồng, là tranh chấp giữa chủ thể có hành vi gây tổn hại tới môi trường, gây ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của chủ thể khác. Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại là chủ thể bị xâm hại lợi ích hợp pháp.

Thời điểm xảy ra vụ Vedan Đồng Nai, các căn cứ pháp lý như sau: Theo quy định của Điều 130 Luật bảo vệ môi trường 2005, các loại thiệt hại bao gồm: Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp khác. Theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp 1992, Điều 200 Bộ luật dân sự 2005, các thành phần môi trường chủ yếu, trong đó có nguồn nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và chức năng, tính hữu ích của môi trường là một lợi ích công cộng mà người đảm bảo cho lợi ích này cũng là Nhà nước.

Như vậy, chủ thể có quyền đòi bồi thường trong trường hợp này là Nhà nước.

Đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp thì chủ thể có có quyền đòi bồi thường là tổ chức, cá nhân bị thiệt hại. Theo quy định tại các Điều 93, 127 Luật Bảo vệ môi trường 2005, Điều 624 Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8-7-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì chủ thể phải bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường khi thỏa mãn các yếu tố sau: i) có hành vi trái pháp luật; ii) có thiệt hại xảy ra và iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp pháp luật.

Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự, chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp không có lỗi. Với việc Vedan bị lập biên bản vi phạm vào ngày 13-9-2008, hành vi trái pháp luật đã được chúng minh. Các thiệt hại về tài sản của người dân và sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của dòng sông Thị Vải và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra cũng đã được cơ quan khoa học chứng minh thông qua kết quả giám định của Viện Tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia TP.HCM).

Như vậy, trong vụ việc này, chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại là Nhà nước và tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về tài sản, sức khỏe do công ty TNHH Vedan có hành vi làm ô nhiễm dòng sông Thị Vải gây ra. Đối với quyền đòi bồi thường thiệt hại của Nhà nước, theo quy định tại Điều 56 khoản 2 Bộ luật tố tụng dân sự, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.

Theo đó, cơ quan được giao quản lý nhà nước về môi trường theo quy định tại Điều 121, 122 Luật bảo vệ môi trường sẽ đại diện cho Nhà nước đòi bồi thường thiệt hại về môi trường. Đối với các hộ gia đình và cá nhân bị thiệt hại, theo quy định tại Điều 107 Bộ luật dân sự 2005, chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ (bao gồm cả trường hợp đòi bồi thường thiệt hại).

Các chủ thể này có thể ủy quyền cho người khác đại diện thực hiện việc đòi bồi thường theo quy định tại Điều 139, 142, 143, 144, 145, 146, 147 Bộ luật dân sự 2005.

Theo đó, chỉ những người được các chủ hộ bị thiệt hại ủy quyền đại diện thực hiện việc đòi bồi thường thiệt hại mới có tư cách pháp lý tham gia vào việc giải quyết tranh chấp và những người được ủy quyền đại diện này phải thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi được ủy quyền đại diện theo hợp đồng giữa các bên. Như vậy, với những vụ việc tương tự, các lập luận pháp lý cũng có thể từ điều 159 đến điều 165 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (hiệu lực từ 1-1-2015), cùng các điều khoản liên quan của Hiến pháp 2013, Bộ Luật dân sự 2015, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8-7-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nên ra tòa hay thương lượng?

Vụ việc Vedan Đồng Nai kéo dài, và số tiền đền bù như thỏa thuận sau đó đã không đến tay người dân đầy đủ. Đây là những việc rất cần có những đánh giá minh bạch để cân nhắc lựa chọn việc khởi kiện một doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra tòa, hay chấp nhận thương lượng “song phương” ngoài tòa.

Câu hỏi đặt ra là vì sao nên chọn tòa án?

Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 3-2-2012 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự về chứng minh, chứng cứ thì các bên phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Chứng minh và đưa ra chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh chấp.

Do đó, các bên đều có quyền đưa ra những mức thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại khác nhau, phụ thuộc vào ý chí và các chứng cứ thu thập được. Một bên có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận mức độ thiệt hại do bên kia đưa ra. Trong trường hợp các bên không thống nhất được thì phải trưng cầu giám định.

Trong trường hợp phải trưng cầu giám định thì việc lựa chọn cơ quan giám định phải được sự đồng thuận của của bên đòi bồi thường và bên phải bồi thường. Trường hợp không thống nhất được thì việc chọn tổ chức giám định thiệt hại do cơ quan được giao trách nhiệm giải quyết việc bồi thường thiệt hại quyết định.

Theo những quy định này thì việc trưng cầu giám định thiệt hại trong một vụ vệc doanh nghiệp nào đó gây ô nhiễm môi trường, cần có sự đồng thuận của bên bị thiệt hại (cơ quan nhà nước đại diện cho lợi ích về môi trường, các hộ gia đình bị thiệt hại hoặc người đại điện theo ủy quyền của các hộ gia đình bị thiệt hại) và chủ thể gây hại.

Trong trường hợp không thống nhất được thì cơ quan trưng cầu giám định thiệt hại là tòa án nhân dân thụ lý, giải quyết tranh chấp này. Những giám định thiệt hại không tuân thủ quy định này không trở thành chứng cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp, nhưng có thể là căn cứ tham khảo khi các bên tự thương lượng.

Như vậy, chọn tòa án là nơi giải quyết tranh chấp, người dân sẽ có lợi là đội ngũ luật sư sẽ đại diện để thực hiện tất cả các bước quy trình tố tụng; đồng thời cũng giúp minh bạch tất cả các khoản thiệt hại và đền bù hơn rất nhiều so chuyện ngồi thương lượng.

Nguyễn Cao

(Theo Môi trường & Đô thị điện tử)