Chính sách tài chính để Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu (Kỳ 3)

(Phapluatmoitruong.vn) – Từ nay đến năm 2030, dự kiến Việt Nam sẽ phải chi gần 30 tỷ USD để khắc phục những hậu quả của biến đổi khí hậu. Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tuấn – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thông qua phân tích và so sánh các chính sách huy động vốn cho ứng phó với biến đổi khí hậu tại một số quốc gia trên thế giới, đã đưa ra đề xuất khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Kỳ 3: Nguồn lực tài chính của Việt Nam sẽ huy động ra sao?

Trong thời gian qua, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã tác động tiêu cực tới nền kinh tế – xã hội Việt Nam. Nhận diện được thực tế và nguy cơ này, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng những chương trình hành động ứng phó với BĐKH, điển hình như Quyết định 1719/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí  đánh giá dự án ưu tiên theo Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH đã thể hiện quyết tâm ứng phó với BĐKH của Việt Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam là một nước đang phát triển, nguồn ngân sách còn hạn hẹp, trình độ khoa học công nghệ còn tương đối thấp, do đó, việc huy động nguồn lực để ứng phó với BĐKH từ các kênh khác nhau là hết sức cần thiết. Từ kinh nghiệm của các quốc gia khác, thời gian tới Việt Nam cần xây dựng và triển khai một số nội dung sau:

Thứ nhất, đánh thuế CO2: Đánh thuế sử dụng nguyên liệu sản sinh nhiều khí các bon và tạo ưu đãi trong đầu tư vào nguồn năng lượng sạch có thể tái tạo. Hiện nay, đã có tới 40 quốc gia trên thế giới đã xây dựng kế hoạch đánh thuế các bon.

Thứ hai, loại bỏ năng lượng hóa thạch theo lộ trình nhất định.

Thứ ba, thúc đẩy phát triển công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo.

Thứ tư, xây dựng các chiến lược huy động nguồn lực tài chính trong khu vực tư nhân thông qua các dự án PPP. Các dự án ứng phó với BĐKH thường kéo dài và lợi nhuận thấp, vì thế, Chính phủ cần có cam kết về thể chế, đảm bảo lợi ích và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư. Đây là chía khóa để mở cửa cho nguồn tài chính dưới dạng PPP vào các dự án ứng phó với BĐKH.

Thực tế, từ tháng 9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020. Tuy nhiên, để triển khai thành công Chiến lược quốc gia này cần phải có nguồn lực, lớn nhất là tài chính.

Do đó, cần xây dựng và triển khai khuôn khổ định hướng về tài chính xanh và các sản phẩm tài chính xanh cho các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường chứng khoán, góp phần thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng xanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững.

Động lực thúc đẩy thị trường trái phiếu “xanh” phát triển nhanh xuất phát từ chính nhu cầu về nguồn vốn của các nhà phát hành và các cam kết của nhà đầu tư về tài trợ chống BĐKH, cũng như những lợi ích kép mà nó mang lại cho cả nhà đầu tư và nhà phát hành.

Trái phiếu “xanh” vừa đem đến nguồn tài chính cho các quốc gia triển khai các dự án năng lượng sạch, giảm tác động và thích nghi với BĐKH, vừa mang lại nguồn tín dụng chất lượng cao cho các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, công nghệ “sạch” cũng đang là một xu hướng được các nhà đầu tư lựa chọn trước những nguy cơ do BĐKH và các vấn đề môi trường gây ra.

Cụ thể, đề án phát triển các sản phẩm của thị trường vốn xanh gồm: Trái phiếu “xanh” là các trái phiếu doanh nghiệp xanh, phát hành cho các dự án xanh hoặc các sản phẩm xanh; Trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương phục vụ cho các mục tiêu, chương trình, dự án xanh; Bộ chỉ số xanh để theo dõi, đánh giá và giao dịch trên thị trường vốn; Các chứng chỉ đầu tư xanh do các Quỹ Đầu tư phát hành cho các dự án, chương trình và lĩnh vực xanh.

Hiện nay, các nước đều cho rằng, nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH phải huy động đồng thời và song song cả bên trong lẫn bên ngoài. Cụ thể, các nguồn lực tài chính có thể được huy động từ những nguồn sau:

(i) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích lập ra một phần cho ứng phó với BĐKH.

(ii) Huy động nguồn lực tài chính thông qua hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Nguồn lực tài chính này có thể được sử dụng đầu tư trực tiếp dưới các hình thức như: Thành lập và vận hành công ty; ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp… Như đã nói ở trên, hiện nay cơ chế PPP đang được khuyến khích sử dụng trong việc huy động nguồn lực tài chính từ các doanh nghiệp cho các dự án ứng phó BĐKH.

(iii) Huy động nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH thông qua các định chế tài chính, thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, thị trường chứng khoán. Hiện nay, trên thế giới đã hình thành và lưu thông thị trường các bon và trái phiếu xanh…

(iv) Huy động nguồn lực tài chính từ nguồn vốn vay ưu đãi và viện trợ của nước ngoài ứng phó với BĐKH, bao gồm: Các quỹ quốc tế, các chương trình quốc tế,  các nguồn vốn song phương và đa phương khác.

Nguyệt Minh

(Theo Môi trường & Đô thị điện tử)

Ảnh minh họa: Nguồn Internet

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here