Chính sách tài chính để Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu (Kỳ 1)

0
1503

(Phapluatmoitruong.vn) – Từ nay đến năm 2030, dự kiến Việt Nam sẽ phải chi gần 30 tỷ USD để khắc phục những hậu quả của biến đổi khí hậu. Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tuấn – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thông qua phân tích và so sánh các chính sách huy động vốn cho ứng phó với biến đổi khí hậu tại một số quốc gia trên thế giới, đã đưa ra đề xuất khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Kỳ 1: Việt Nam chịu thiệt hại nặng nề nhất

Biến đổi khí hậu (BĐKH) thường được hiểu là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu, “khung” thời tiết từ bình thường của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để sau đó, dần dần đi vào ổn định mới. Biểu hiện của BĐKH được thể hiện qua những thay đổi thường gặp sau:

(i) Nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất tăng, làm cho mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao.

(ii) Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển.

(iii) Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán…) xảy ra với tần suất cao, bất thường và cường độ tăng lên.

Các hiện tượng trên đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sản lượng của nền kinh tế thế giới. Ước tính hàng năm, tác động của BĐKH khiến nền kinh tế thế giới tổn thất từ 2% đến 6% GDP. Việt Nam được đánh giá là một trong số ít các nước sẽ phải chịu hậu quả nặng nề nhất của BĐKH. Nếu nhiệt độ tăng 2 độ C thì mực nước biển dâng 1m, có thể làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cư trú của 23 % dân số (khoảng 21 triệu người) ở Việt Nam.

Hội nghị thượng đỉnh Khí hậu thế giới COP 21 (Thỏa thuận Paris) đã thông qua thỏa thuận với sự đồng thuận của 195 nước thành viên Công ước khung của Liên Hợp quốc về BĐKH. Theo đó, các nước nhất trí hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất không quá 2 độ C so với thời kỳ tiền Cách mạng công nghiệp và sẽ cố gắng đưa con số này về mức 1,5 độ C.

Để đạt được mục tiêu trên, các quốc gia phát triển sẽ cung cấp tài chính giúp các nước đang phát triển chuyển đổi sang sử dụng năng lượng tái tạo cũng như tăng cường khả năng ứng phó với các thảm họa thiên nhiên do BĐKH gây ra (như hạn hán hay lũ lụt).

Cụ thể, các nước phát triển cam kết sẽ chi tối thiểu 100 tỷ USD mỗi năm nhằm ứng phó với BĐKH, tính từ năm 2020, sau đó sẽ được tăng dần lên và 2 năm sẽ báo cáo một lần về mức đóng góp của mình.

Tuy nhiên, để có được nguồn tài chính nhằm ứng phó với BĐKH, quá trình hoạch định chính sách tài chính quốc gia cần phải thích ứng với đặc điểm và yêu cầu của từng thời kỳ phát triển. Chính sách tài chính đòi hỏi phải được cụ thể hóa bằng các giải pháp thích hợp như: Chính sách đối với ngân sách nhà nước (NSNN), chính sách tài chính cho các doanh nghiệp (DN), chính sách tài chính đối với dân cư, chính sách xây dựng và phát triển thị trường tài chính, cụ thể:

– Chính sách huy động và sử dụng vốn: Thể hiện ở các định hướng huy động – sử dụng vốn hiệu quả hợp lý;

– Chính sách tài chính DN: Tạo điều kiện cho các DN có thể sử dụng vốn hiệu quả và bình đẳng trong sản xuất kinh doanh;

– Chính sách tài khóa: Chính sách quan trọng nhất trong chính sách tài chính quốc gia, đảm bảo cân bằng NSNN trong dài hạn;

– Chính sách tiền tệ tín dụng: Công cụ chủ yếu phục vụ lưu thông vốn trong nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng công cụ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào thị trường tiền tệ, qua đó tác động vào hoạt động kinh tế theo định hướng;

– Chính sách tài chính đối ngoại: Nhà nước định hướng việc mở rộng các quan hệ tài chính với nước ngoài, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn từ các đối tác này để phát triển kinh tế và cải thiện các điệu kiện xã hội.

Nguyệt Minh

(Theo Môi trường & Đô thị điện tử)

Ảnh minh họa: Nguồn Internet

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here