Áp lực về môi trường đang tăng nhanh trong sản xuất lương thực

(Phapluatmoitruong.vn) – Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống canh tác đã gây nên sự chú ý ngày càng tăng ở nhiều quốc gia trong 2 thập kỷ qua, nhất là các nước phát triển, khi mà áp lực về lương thực giảm đi, song áp lực về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng nông sản và môi trường lại tăng lên.

Ngày 27-12, tại TP.HCM, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phối hợp với công ty phân bón Bình Điền tổ chức diễn đàn Quốc gia phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ Nhất với chủ đề “Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam”.

Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn

Tham dự có ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn; Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam Hà Phúc Mịch; Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, TGĐ Công ty CP Phân bón Bình Điền, Trưởng Ban tổ chức diễn đàn Lê Quốc Phong, cùng với hơn 350 đại biểu, đơn vị sản xuất, nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp.

Ông Hà Phúc Mịch – Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

Về sản xuất nông sản hữu cơ, hiện nay cả nước có 26 đơn vị, với diện tích 4.100 hecta, ở 15 tỉnh thành mà tập trung chủ yếu là TP Hà Nội và các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Hà Nam, Lâm Đồng, Cà Mau, Bến Tre, Bà Rịa – Vũng Tàu. Một số sản phẩm hữu cơ đã có chỗ đứng vững trên thị trường như mật ong, rau, chè, thịt heo, tôm.

Việt Nam hiện công nhận hai mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ chính, của doanh nghiệp tư nhân và nhóm hộ nông dân. Trong đó, nhóm doanh nghiệp tư nhân chủ yếu áp dụng các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế để sản xuất sản phẩm xuất khẩu và phục vụ nhu cầu tại các thành phố lớn. Nhóm hộ nông dân sản xuất theo hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) phục vụ cho lượng tiêu dùng nhỏ trong nước.

TGĐ Công ty CP Phân bón Bình Điền Lê Quốc Phong

Theo các đại biểu tham dự diễn đàn, có thể nói sản xuất nông nghiệp hữu cơ không còn là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề chính sách. Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan đến nông nghiệp hữu cơ, như BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế cần sớm ban hành các chính sách cụ thể, khả thi để hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ phát triển, các chính sách nên tập trung vào:

  1. Qui hoạch và bảo vệ đất đai và nguồn nước hiện chưa hoặc ít bị ô nhiễm và còn thích hợp cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo hướng hàng hóa.
  2. Nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam còn quá nhỏ bé, các doanh nghiệp vừa nhỏ về qui mô, vừa ít về số lượng và hầu như chưa nhận được sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước nên chưa có lãi, chưa thu hút các nhà đầu tư.

Đó là chưa kể mức độ rủi ro cao về thị trường với ngành hàng này, do vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn sản xuất, ưu đãi trong giao và cho thuê đất và miễn giảm thuế thu nhập cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Đồng thời trong thời gian đầu có thể cần đến quĩ bảo hiểm sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

  1. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, qui chuẩn sản xuất, chế biến, chứng nhận chất lượng, thanh tra, giám sát liên quan đến nông nghiệp hữu cơ.
  2. Phần lớn các sản phẩm hữu cơ tiềm năng của Việt Nam đều nằm ở các vùng khó khăn về giao thông, điều kiện bảo quản, tạm trữ, chế biến không thuận lợi, do vậy, Nhà nước cần hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng cho chế biến phân bón hữu cơ, phân sinh học, vi sinh vật tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển.
  3. Giúp đỡ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm.
  4. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng cần các yếu tố đầu vào đảm bảo. Do vậy, những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh liên quan đến phân bón hữu cơ, sinh học, vi sinh vật, chế phẩm bảo vệ thực vật sinh học cũng cần được quan tâm hỗ trợ trong sản xuất. Tất nhiên, cần có sự liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hữu cơ với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật liên quan.

Kết thúc diễn đàn, các đại biểu cùng chia sẻ quan điểm do áp lực ngày càng tăng của dân số, đất canh tác hạn hẹp…  nền nông nghiệp hữu cơ với lịch sử hàng ngàn năm đã không thể đảm bảo an ninh lượng thực cho quốc gia và do vậy, nông nghiệp Việt Nam đã phải chuyển từ một nền nông nghiệp dựa vào đất, dựa vào hữu cơ sang một nền nông nghiệp dựa vào phân bón (chủ yếu là vô cơ).

Chính phân bón hóa học như là một yếu tố quan trọng của thâm canh đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn của nông nghiệp thời gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, và điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất và nước.

Tuy nhiên, do đã xuất hiện những cơ hội mới cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trong phạm vi khu vực và thế giới, nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam bắt đầu có điều kiện phát triển cho dù trước mắt còn rất nhiều khó khăn và thách thức. Hy vọng, trong tương lai gần, thách thức về môi trường trong nông nghiệp sẽ được nhanh chóng giải quyết.

Khắc Dzũng

(Theo Môi trường & Đô thị điện tử)

 

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here